BMW 750li 2018: Giá bán bao nhiêu, Đánh giá xe – Thông số kỹ thuật

Contents

BMW 750Li 2018 giá bán bao nhiêu?

Hiếm có dòng xe nào rơi vào tình cảnh “hiểm nghèo” như 7 Series. Những mẫu sedan cao cấp nhất của hãng xe Đức vừa phải giữ được trải nghiệm thể thao – linh hồn của thương hiệu BMW, vừa phải cạnh tranh với S-Class về sự sang trọng, vừa đấu đá với Audi A8 về công nghệ. Liệu BMW 7 Series thế hệ thứ 6 có thể chinh phục được tất cả mục tiêu trên?

Giá xe BMW 730Li (2.0L – 258 mã lực) : 4.098.000.000đ

Giá xe BMW 740Li (3.0L – 326 mã lực) : 4.998.000.000đ

Đánh giá xe BMW 750i 2018 về thiết kế

Hiếm có hãng xe nào có được nhiều chi tiết nhận diện thương hiệu như BMW. Những ai không quá am hiểu xe cộ vẫn có thể nhận ra ngay một chiếc BMW nhờ 2 cái “lỗ mũi” hình quả thận vô cùng đặc trưng. Trong thế giới xe, bất kỳ nhà sản xuất nào tạo ra được dấu hiệu đặc trưng của hãng cũng đều gặt hái được thành công cả về danh tiếng lẫn doanh số. Chúng ta hãy cùng phân tích kỹ để thấy được vẻ đẹp vừa mang tính kế thừa, vừa mang tính cách tân của chiếc BMW 750Li này.

BMW 750i 2018, Mua bán xe BMW 750i 2018, Đánh giá xe BMW 750i 2018, Thông số kỹ thuật BMW 750i 2018, giá xe BMW 750i

Ở phần đầu xe, khỏi nói cũng biết chi tiết nổi bật nhất là lưới tản nhiệt hình 2 quả thận cỡ XXL+. Quả thực, bộ lưới tản nhiệt này lớn hơn khá nhiều so với 7 Series đời 5 và có lẽ chỉ thua kém những mẫu X5 và X7 mới nhất. Hai “lỗ mũi” này có số lượng thanh dọc trên lưới tản nhiệt giảm xuống còn 9 thanh mỗi bên, tạo ấn tượng rộng rãi và thoáng đãng, giúp xe “dễ thở” hơn. Dường như có một cuộc đua ngầm giữa Audi, BMW và Mercedes-Benz với mục tiêu là xem ai dám lắp những bộ lưới tản nhiệt to nhất trên xe của mình! Tấm lưới tản nhiệt Active Air Stream Kidney này có các tấm chắn bên trong được điều khiển điện đóng mở tùy theo nhu cầu tản nhiệt của động cơ cũng như hệ thống điều hòa.


Những họa tiết rất tinh xảo trong cụm đèn LED định vị ban ngày

Cụm đèn trước dạng LED kết hợp với đèn laser là điểm nhấn tạo ra khác biệt cho BMW 750Li. Với đèn pha laser, chùm sáng tập trung đạt cường độ sáng lớn gấp 10 lần so với nguồn sáng thông thường như halogen, xenon hay LED. Đèn Laserlight của BMWW có khoảng cách chiếu sáng lên tới 600 mét, gấp đôi so với đèn pha sử dụng công nghệ cũ. Hệ thống này cũng tiết kiệm điện 30% so với đèn LED. Ngoài ra, đi-ốt phát quang trong đèn laser nhỏ hơn 10 lần so với đèn xenon hay đèn LED thông thường, cho phép thiết kế đèn pha nhỏ gọn và đẹp mắt hơn. Vì cường độ ánh sáng rất mạnh nên ánh sáng Laser chỉ hoạt động ở chế độ chiếu xa và chỉ được kích hoạt khi xe di chuyển với tốc độ từ 60 km/h trở lên.

BMW 750i 2018, Mua bán xe BMW 750i 2018, Đánh giá xe BMW 750i 2018, Thông số kỹ thuật BMW 750i 2018, giá xe BMW 750i

Tuy phần đầu xe rất hút mắt với 2 chi tiết ngoại cỡ kia nhưng phần thân xe mới là thứ khiến “fan cuồng BMW” như tôi thấy thổn thức nhất. Hãy bỏ qua vẻ đẹp hút mắt của bộ la-zăng Style 646 20 inch đa chấu bóng lộn đi – chẳng cần phải là fan cuồng thì bạn cũng có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó. Có 2 thứ mà tôi muốn nói tới, đầu tiên là các chi tiết khí động học. Bắt đầu là “Air Curtain” được tích hợp trong tấm cản trước. Các khe nhỏ của Air Curtain tăng tốc dòng không khí ập vào đầu xe, hướng nó vòng qua phía trong vòm bánh xe trước và thoát ra ở “Air Breather”, một khe thoát khí nằm ngay sau vòm bánh xe trước. Sự kết hợp của các khe gió với tên gọi nghe rất “nguy hiểm” này giúp dòng không khí chảy qua xe được định hướng một cách kỹ lưỡng, giúp giảm lực cản không khí, qua đó tăng hiệu quả khí động học, giảm tiêu thụ nhiên liệu.

Khe Air Breather được đặt trong 1 đường viền ốp crom hình gậy golf nằm ở sườn xe có tác dụng nhấn mạnh chiều dài của mẫu sedan cỡ lớn BMW 750Li. Tôi thích kiểu dùng các tấm mạ crôm có độ dày vừa phải của BMW – nó gợi mở rằng 750Li vẫn là một chiếc xe mang dòng máu thể thao chứ không hoàn toàn ngả về mặt sang trọng.

Cuối cùng là một chi tiết khác chỉ mang tính thẩm mỹ nhưng cực kỳ quan trọng đối với mọi chiếc BMW: móc khuyết Hofmeister Kink. Đó là thiết kế đặc biệt của cột C khi nó không thoải xuống phần thân xe giống như đa số mẫu sedan three-box khác mà móc ngược lại phía trước 1 chút. Đây là chi tiết được đặt theo tên cựu Giám đốc thiết kế của BMW Wilhelm Hofmeister. Ông là người đầu tiên phê duyệt kiểu thiết kế đặc biệt này trên chiếc BMW 1500 đời 1961 và gần 60 năm sau, tất cả những chiếc BMW sau này đều mang trên mình một phiên bản của Hofmeister Kink, 60 năm!

Thực tình thì tôi nhất thời chưa thể nghĩ ra một chi tiết thiết kế nào dù rất đơn giản nhưng lại có sức trường tồn kinh khủng đến vậy. Chi tiết này hướng người nhìn chú ý đến bánh xe sau nhiều hơn, ngầm gợi ý rằng đây là một chiếc xe dẫn động cầu sau có thiên hướng thể thao. Hofmeister Kink và lưới tản nhiệt hình quả thận (vốn xuất hiện lần đầu trên chiếc BMW 303 năm 1933) là 2 nét thiết kế kinh điển định hình một chiếc BMW.

Phần đuôi xe BMW 750Li được thiết kế gọn ghẽ với 2 cụm đèn hậu dạng LED có thiết kế hình chữ L và được kết nối bằng một dải crom sáng bóng. Bên dưới là cụm 4 ống xả cỡ lớn được đặt trong 2 tấm chụp ống xạ mạ crom rất nổi bật. Cá tính thể thao của BMW 750Li được thể hiện ở cụm ống xả tuyệt đẹp này. Tôi thích BMW ở chỗ họ luôn nói không với “ống xả giả”. Ngay cả trên một mẫu sedan fullsize hạng sang như 750Li, nằm ngay bên trong viền chụp mạ crôm là 4 họng ống xả tròn to bản.

BMW 750Li có kích thước tổng thể rất to lớn và bề thế. Cụ thể, xe có chiều dài 5.248 mm, chiều rộng 1.902 mm và chiều cao 1.479 mm. Chiều dài cơ sở của BMW 750Li đạt mức 3.210 mm, dài hơn 45 mm so với Mercedes-Benz S-Class bản trục cơ sở dài. Nhờ vậy, không gian để chân cho khách ngồi hàng ghế phía sau hứa hẹn sẽ rộng rãi hơn so với đối thủ.

Đánh giá xe BMW 750i 2018 về nội thất

 

Đầu tiên và trên hết, một chiếc sedan cỡ lớn phải mang lại trải nghiệm tương xứng với đẳng cấp của chiếc xe. Sự sang trọng là điều mà mọi khách hàng mong chờ trên một chiếc sedan cỡ 7 Series. Không, trải nghiệm sang trọng là điều mà mọi ông chủ nghiêm nhiên có quyền tận hưởng. Thực tế mà nói, BMW 7 Series đời thứ 5 chưa làm tròn nghĩa vụ của nó, vẫn để một vài khách hàng phải “giá như…”. Vẫn được chế tác từ da Nappa, kim loại và gỗ nhưng khoang nội thất 7 Series đời 5 không mang lại cảm giác xa xỉ giống như kỳ phùng địch thủ Mercedes-Benz S-Class W222. Vậy 7 Series đời mới nhất thì sao?

Khoang nội thất BMW 7 Series mới được thiết kế tinh tế và sang trọng hơn so với thế hệ trước thông qua cách bố trí hệ thống chiếu sáng khoang ca bin với các dải LED cực kỳ tinh xảo, thêm tính năng trải thảm ánh sáng khi người lái bước vào xe cùng với cửa sổ trời Sky Lounge Panorama độc đáo được chiếu sáng bởi 15.000 bóng đèn LED. Màu của các phần tử LED siêu nhỏ này sẽ chuyển đổi theo màu dải LED mà chủ xe lựa chọn.

Có khá nhiều tùy chọn màu sắc cho hệ thống đèn trang trí quanh xe, trong đó có những kiểu phối 2 màu rất độc đáo. Tuy BMW 750Li không thể chọn 64 màu như hệ thống tương tự trên S-Class nhưng tôi vẫn thích kiểu đèn của BMW hơn. Nó cho cảm giác hiện đại và tinh tế hơn với các dải LED mảnh tạo điểm nhấn chứ không chiếu sáng cả 1 vùng như trên S-Class. Bù lại, Ambient Lighting trên S-Class có thể chỉnh được cường độ sáng, nhưng một lần nữa, cửa sổ trời Sky Lounge là thứ khiến tôi ngả đội BMW về khoản ánh sáng trang trí. Audi A8 ư? Phải đợi khi mẫu sedan cao cấp nhất của Audi về Việt Nam thì tôi mới có thể “mần” dàn đèn trang trí của nó.

Gần như mọi chi tiết trong khoang cabin được chế tác tỉ mỉ từ da Dakota, da Nappa, kim loại và gỗ tự nhiên, mang lại cảm giác sang trọng cần thiết cho một chiếc sedan cỡ lớn. Nếu thực sự kỹ tính với các chi tiết da thường xuyên tiếp xúc như ghế và táp pi cửa, khách hàng có thể lựa chọn loại da hảo hạng Merino Individual. Đây là loại da tự nhiên kiểu top grain semi-aniline và là tùy chọn da cao cấp nhất mà BMW cung cấp. Dakota, Nappa, Merino, top grain, full grain? Tôi đoán rằng bạn đang khá mông lung trước một rừng thuật ngữ marketing này. Hãy để tôi giải thích.

Khi bàn về các loại da cao cấp, ta cần phân biệt giữa da “full grain” và “top grain”. Nói một cách đơn giản, da “full grain” có chất lượng cao nhất, mọi khiếm khuyết tự nhiên, mọi vết nhăn trên bề mặt da đều được giữ nguyên nhằm khiến miếng da có vẻ đẹp tự nhiên nhất có thể. Da “top grain” có chất lượng thứ nhì, chỉ kém một chút so với full grain. Loại da này được mài đi một phần rất mỏng để bề mặt da nhẵn đều hơn và loại đi một phần khiếm khuyết da nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp tự nhiên của miếng da một cách tương đối hoàn hảo.

Còn “semi-aniline” thì sao? “Semi-aniline” hay “aniline” cho ta biết liệu miếng da có được phủ lớp bảo vệ hay không. Hãy quan sát hình chụp cắt lớp 1 miếng da dưới đây:

Đây là mặt cắt của một tấm da. Bản thân tấm da đã được nhuộm màu sẵn, nếu nó không được phủ một lớp bảo vệ + lớp màu nhuộm bên ngoài thì chúng ta có thể gọi nó là da full-aniline, hay thường được gọi tắt là aniline. Tổng hợp lại, nếu ta có full grain + full aniline, tức ta đang nhắc đến loại da bò thượng hạng có chất lượng cao nhất mà tiền bạc có thể mua được.

Tuy nhiên, loại da này rất, rất ít khi xuất hiện trên xe sang thời hiện đại vì các nhà sản xuất xe hơi đều đặt ra các tiêu chuẩn vô cùng khắt khe cho các loại da bọc trên xe họ bán ra. Một vài tiêu chí có thể kể đến là độ đàn hồi, độ bền nhiệt, khả năng chống mài mòn, chống cháy, chống nhăn, chống thấm nước… Nếu những chiếc ghế da, bảng táp lô, táp pi được bọc bằng da full grain + full aniline, chúng sẽ dễ bị bẩn, dễ phai màu, ám màu và khó vệ sinh vì da nguyên bản hút nước rất nhanh và không được phủ lớp bảo vệ.

Độ thấm nước của những miếng da analine cũng phụ thuộc nhiều vào quá trình xử lý da tươi, bảo quản, cách thuộc da, hóa chất thuộc da và một số yếu tố khác. Mỗi xưởng da cũng có các quy trình xử lý riêng dành cho các loại da có mục đích sử dụng khác nhau. Nhìn chung thì da aniline không hẳn là lựa chọn tốt nhất cho nội thất xe hơi. Đó là lý do vì sao đa số các hãng xe đều sử dụng da semi-aniline – sự thỏa hiệp hoàn hảo.

Da semi-aniline vẫn giữ được sự mềm mại, khả năng truyền nhiệt cùng nhiều đặc tính đáng giá của da aniline nhưng bền màu hơn, bền bỉ hơn và chống xước tốc hơn. Các hãng da đều áp dụng phương pháp sản xuất da semi-aniline như nhau: phủ một lớp vật liệu kết dính siêu mỏng, 1 lớp màu và 1 lớp coating bảo vệ lên trên bề mặt tấm da – ba thành phần này gọi là “finish”. Lớp phủ thêm này phải đảm bảo độ mỏng và độ trong suốt nhất định để không che đi phần vân tự nhiên nhưng vẫn phải bảo vệ tốt lớp da nhạy cảm bên dưới. Một loại da semi-aniline hảo hạng phải có lớp coating đủ tốt để không bít quá nhiều lỗ chân lông và vân da để “khoe” gần như trọn vẹn vẻ đẹp của da tự nhiên.

Các hãng xe phải cân bằng giữa nhiều yếu tố. Nếu họ chọn loại da ít khiếm khuyết nhất có thể để không phải mài da và không phủ lớp finish quá dày, họ có một loại da bọc nội thất tuyệt đẹp, có độ mềm và độ thoáng khí tối ưu nhất nhưng giá thành da sẽ rất đắt. Ngược lại, nếu da gốc kém hơn một chút thì nó sẽ bị mài nhiều hơn, phủ lớp finish dày hơn. Khi đó, chất lượng về mặt thẩm mỹ và cảm giác khi tiếp xúc với tấm da cũng sẽ giảm dần theo.

Đó là tôi còn chưa nhắc đến các loại da thấp cấp hơn như da “split leather” bị mài nhẵn và dập vân nhân tạo, hay tệ hơn nữa là da tạp nham được tạo ra bằng cách trộn vụn da và các chất độn. Tất nhiên, ta không thể đòi hỏi những chiếc xe thuộc phân khúc tầm trung trở xuống sở hữu chất lượng da tương đương với xe sang hay siêu sang nhưng khi nhà sản xuất đứng trước sức ép giảm chi phí, tăng lợi nhuận, da nội thất là một trong những thành phần bị cắt xén mạnh tay.

Trở lại với chiếc BMW 750Li mà cụ thể là phần ghế ngồi, nếu nhìn kỹ, bạn sẽ thấy BMW đã khéo léo kết hợp da Dakota và da Nappa để tạo nên những chiếc ghế vừa êm ái, vừa giảm chi phí sản xuất. Phần lưng ghế và mặt ghế là da Dakota đột lỗ, trong khi tựa đầu, hông ghế và đệm đùi là da Nappa cao cấp hơn. Kiểu thiết kế này thông minh ở chỗ: khi ta ngồi vào ghế, quần áo của chúng ta sẽ tiếp xúc với các mảng da Dakota và thực sự mà nói, sẽ rất khó để phân biệt độ mềm mại của da Dakota và Nappa qua lớp quần áo. Ngược tại, những mảng da Nappa được bố trí ở hai bên xe trực tiếp chạm vào da thịt, mang lại cảm giác mềm mại, sang trọng. Tuy nhiên, cần phải nói rằng đối thủ Mercedes-Benz S560 có lớp da tiêu chuẩn tốt hơn (full Nappa), dù nếu lựa chọn 2 tùy chọn da cao cấp nhất (Merino Individual của BMW và Designo Exclusive của Mercedes) thì chất lượng da là tương đương nhau.

Dù vậy, có một trải nghiệm mà BMW 7 Series có phần trội hơn Mercedes S-Class, đó là trải nghiệm ở hàng ghế sau. Hành khách ngồi sau cũng được tận hưởng hàng loạt tiện nghi sang trọng. Khoảng không gian phía sau của BMW 750Li rất rộng rãi với khoảng để chân lên tới 1.127 mm, hơn S560 35 mm. Tất nhiên, ta không nói đến những chiếc S-Class Maybach. Về các tính năng như ghế mát-xa, sưởi ấm, sấy mát, tủ lạnh ẩn ở ghế giữa hay tùy chọn 2 ghế sau tách biệt, nhìn chung là 7 Series và S-Class đều cho trải nghiệm tương đồng. Tuy nhiên, sự khác biệt của BMW 750Li là chiếc máy tính bảng ẩn trong bệ tỳ tay hàng ghế sau.

Nếu như chủ nhân S-Class phải điều khiển 2 màn hình giải trí bằng một chiếc điều khiển nhựa có chất lượng gia công khá ọp ẹp thì chủ nhân 7 Series lại dễ dàng điều khiển 2 màn hình 10 inch phía sau bằng một chiếc tablet 7 inch gắn ở tựa tay. Nó chính là 1 chiếc Samsung Galaxy Tab và có thể tháo rời để bạn tiện thao tác, BMW gọi chiếc tablet này là Touch Command. Chiếc tablet này có thể truy cập kho dữ liệu CH Play của Google để tải về bất kỳ game nào bạn muốn và ngạc nhiên hơn, ngay cả 2 màn hình gắn sau lưng ghế trước cũng có thể chơi game!

Với chiếc tablet trong tay, tôi có thể xem thông số hoạt động của xe, chỉnh ghế, chọn màu ánh sáng viền Ambient Lighting và làm rất nhiều việc khác vì nó chạy hệ điều hành Android. Hai màn hình chính cũng rất mượt mà và có độ phân giải HD 720P, tương đối ổn. Nhìn chung, trải nghiệm hàng ghế sau của BMW 750Li cuối cùng cũng tốt như khách hàng kỳ vọng, chỉ tiếc là nếu màn hình gắn trên ghế có thể tháo rời như Audi A8 thì tốt hơn.

Đánh giá trang bị công nghệ BMW 750i 2018

 

Tôi phải dành riêng phần mục chính để có thể thoải mái lột tả mọi công nghệ mà chiếc BMW 750Li này sở hữu. Có quá nhiều công nghệ thú vị nên tôi mạn phép chỉ liệt kê những thứ đáng kể nhất.

Đầu tiên và quan trọng nhất, đó là nền tảng khung gầm Carbon Core. Các hãng sản xuất xe hơi luôn tìm cách giảm trọng lượng cho các mẫu xe của mình. Họ sử dụng các loại hợp kim thép cao cấp hoặc dần chuyển sang vật liệu nhôm. Sợi các-bon – vốn được sử dụng đầu tiên trong ngành công nghiệp hàng không, cũng là một loại vật liệu được các nhà sản xuất xe hơi tin dùng. Tuy nhiên, không phải hãng xe nào cũng có đủ tiềm lực để phát triển và ứng dụng sợi các-bon một cách hiệu quả và rộng rãi.

Trên thực tế, sợi các-bon đã được ứng dụng vào ngành công nghiệp xe hơi từ hàng chục năm nay. Dù vậy, đối với các xe thương mại được sản xuất hàng loạt thì sợi các-bon vẫn chỉ dừng lại ở các bộ phận mang tính thẩm mỹ ở phần thân vỏ hoặc nội thất. Vì lẽ đó, việc BMW có thể áp dụng loại vật liệu đắt tiền này vào phần khung của những chiếc xe dưới 100.000 USD thực sự là một thành tựu đáng kể.

Hình ảnh trên cho thấy khung gầm của chiếc BMW 7 Series thế hệ thứ 6. Đây là chiếc xe chạy xăng đầu tiên được BMW áp dụng nền tảng OKL với tên thương mại “Carbon Core”. Với những chiếc siêu xe có giá bán trên 200.000 USD, phần khung gầm chính (monocoque) được chế tạo hoàn toàn từ sợi các-bon là một điều gì đó không quá lạ lẫm. Tuy nhiên, khung gầm hoàn toàn bằng sợi các-bon hiện vẫn chưa khả thi với một chiếc xe sedan hạng sang có giá bán từ 80.000 USD như 7 Series, dù BMW là một trong những nhà sản xuất xe hơi đóng góp nhiều nhất vào việc giảm giá thành sợi các-bon thương phẩm.

Đó là lý do vì sao BMW tạo nên khung gầm Carbon Core với kết cấu thép cường lực + nhôm siêu cứng và gia cố thêm 15 bộ phận bằng sợi các-bon CFRP. Các bộ phận bằng sợi các-bon được ốp vào các bộ phận chịu lực trực tiếp khi có va chạm. Đó là cột A, B, C, 3 thanh giằng ngang tạo nên khung trần xe và nhiều bộ phận nhỏ khác. Nhờ khung gầm tiên tiến, 7 Series thế hệ thứ 6 nhẹ hơn 140 kg so với thế hệ trước và có độ cứng thân xe hàng đầu phân khúc.

Sợi các-bon không phải là một loại vật liệu mới mẻ nhưng có hai điều mà hiện nay, chỉ mình BMW làm được. Đó là khả năng tự sản xuất sợi các-bon với quy mô lớn để giảm giá thành và kỹ thuật kết hợp vật liệu này với thép và nhôm để tạo nên khung xe vừa vững chắc, vừa không quá đắt đỏ.

BMW đã và đang đầu tư hàng tỷ USD nhằm tăng năng suất chế tạo sợi các-bon lên gấp 10 so với hiện tại. Sản xuất sợi các-bon với số lượng lớn sẽ giúp họ giảm giá thành và phổ cập công nghệ các-bon tới toàn bộ dải sản phẩm của họ. Trong tương lai gần, những chiếc 3 Series, thậm chí là những dòng xe SUV của BMW cũng sẽ hưởng lợi từ công nghệ các-bon. Có thể thấy, khả năng tự sản xuất sợi các-bon là một trong những ưu thế lớn của BMW khi so với các đối thủ cùng tầm.

Bên cạnh Carbon Core, gói tùy chọn Executive Drive Pro (EDP) cũng rất đáng chú ý. BMW 750Li có hệ thống treo khí nén là trang bị tiêu chuẩn, và gói tùy chọn EDP hoàn thiện nó để cùng mang lại trải nghiệm tuyệt vời. Nó bao gồm các thanh giảm chấn điều khiển điện và thanh cân bằng chủ động cũng được điều khiển điện tử. Bạn chỉ việc chọn các chế độ lái Sport hay Comfort, mọi ổ gà, ổ khủng long trên đường cứ để EDP lo! Cảm biến gia tốc theo chiều dọc gắn trên thanh giảm chấn và các cảm biến xác định dao động của giảm chấn và thân xe sẽ cung cấp thông tin cho mô-đun điều khiển hệ thống treo (SCM), bộ phận này thực hiện hàng trăm ngàn phép tính mỗi giây để điều khiển độ cứng của thanh giảm chấn nhằm xử lý ổ gà 1 cách êm ái nhất.

EDP còn tiếp nhận thông tin định vị GPS để xác định những khúc cua phía trước để chuẩn bị “đối phó” với chúng. Nói một cách văn hoa, hệ thống EDP có thể “đọc” trước cung đường phía trước nhờ sóng vệ tinh! Chưa hết, camera gắn sau gương chiếu hậu trung tâm sẽ đọc tình trạng mặt đường 15m phía trước đầu xe để thay đổi tình trạng của hệ thống treo. Executive Drive Pro hoạt động tương tự như cách hệ thống Magic Body Control trên S-Class, điểm khác biệt là nó sử dụng cả thông tin GPS để hoạt động. Chúng ta sẽ khám phá tính hiệu quả của hệ thống này trong phần dưới.

Bên cạnh EDP, hệ thống đánh lái bánh sau Integral Active Steering cũng góp phần mang lại trải nghiệm tiện nghi hơn cho BMW 750Li. Ở tốc độ dưới 50 km/h, bánh sau sẽ bẻ lái ngược hướng bánh trước với góc tối đa 2,5 độ để khiến chiếc xe dễ xoay trở hơn, giảm bán kính vòng quay xuống còn 6,4 mét, quá ấn tượng đối với một chiếc xe dài 5.247 mm! Khi xe vào cua ở tốc độ cao, bánh sau sẽ bẻ lái cùng hướng bánh trước để tăng độ cân bằng và êm ái.

Hệ thống điều khiển bằng cử chỉ (BMW Gesture Control) thì không có quá nhiều tác dụng đối với tôi. Chức năng này cho phép nhận hoặc từ chối cuộc gọi đến chỉ bằng cách gạt hoặc chỉ vào không trung, hay điều chỉnh âm lượng trong xe chỉ với việc vẽ một hình tròn bằng ngón tay trỏ. Điều này được cho là không chỉ giúp cho người lái giảm thiểu thao tác với các nút bấm mà còn không bị phân tâm trong lúc lái xe. Tuy nhiên, tôi thấy việc huơ huơ tay như vậy còn khiến tôi mất tập trung hơn thay vì dùng nút vật lý hoặc màn hình cảm ứng. May mắn thay, BMW là một trong những hãng có hệ thống thông tin giải trí tuyệt vời nhất làng xe với hệ thống iDrive tiên tiến. Một điểm cộng nữa là màn hình trung tâm có chức năng cảm ứng, bạn có thể thao tác dễ dàng như với 1 chiếc máy tính bảng.

Chìa khóa BMW Display Key cũng là một tùy chọn gây nhiều ý kiến trái chiều. Nhiều người cho rằng nó là tương lai của chìa khóa xe ơi, lại có người chỉ thấy nó rắc rối và không mấy hữu dụng. BMW Display Key không chỉ dừng lại ở việc tuỳ chỉnh các chức năng cơ bản mà còn cho phép người dùng kích hoạt tính năng đỗ xe tự động từ xa hoặc mở hệ thống điều hoà trong xe ngay cả khi bạn đang ở cách chiếc xe 300m. Tuy nhiên, chìa khóa này cần phải sạc và đó là lý do BMW có bán thêm dock sạc không dây. Giá của dock sạc này tại Mỹ chỉ là 76 USD, 1 số tiền rất nhỏ nhưng đáng ra BMW nên coi nó là trang bị tiêu chuẩn. Chìa khóa Display Key có thêm tính năng hỗ trợ di chuyển xe ra vào vị trí hẹp (Remote Paring). Đây là tính năng rất thú vị nhưng bạn chỉ có thể điều khiển xe tiến lùi ở nơi có độ dốc dưới 20 độ.

Nhìn chung, chìa khóa Display Key rất thú vị nhưng lẽ ra nó còn có thể làm được nhiều điều hơn thế. Gần như tất cả những gì Display Key làm được thì 1 chiếc điện thoại với phần mềm Connected Drive của BMW cũng làm được, tất nhiều là trừ tính năng Remote Parking. Hơn nữa, trong thời đại này, chiếc điện thoại dường như lúc nào cũng “dính” vào tay chúng ta, trong khi việc phải mang 1 chiếc chìa khóa ô tô rất to bên người sẽ ít nhiều gây vướng víu. Chiếc chìa khóa Display Key còn không có lỗ móc dây nên bạn không thể móc nó vào chung 1 chùm chìa khóa mà phải để riêng! Với chiếc X7 vừa ra mắt, BMW đã giới thiệu tính năng mở khóa cửa xe bằng điện thoại, thậm chí là nổ máy bằng điện thoại nhờ Digital Key. Có thể thấy, trong tương lai, bạn sẽ chỉ phải mang đúng chiếc điện thoại của mình vào xe mà thôi.

Công nghệ cuối cùng tôi muốn nhắc đến là camera toàn cảnh. Camera toàn cảnh thì có gì đáng nói? Vẫn là 4 camera độ phân giải cao gắn ở quanh xe, vẫn là chế độ góc nhìn toàn cảnh từ trên cao, nhưng điều đặc biệt của hệ thống Surround-View của BMW 750Li là chế độ 3D View. Máy tính sẽ xử lý dữ liệu thu được từ các camera và dựng lên hình ảnh 3D của chiếc xe và bạn có thể xoay chuyển mọi hướng để quan sát kỹ xung quanh xe, cứ như thế có 1 anh quay phim đang chạy quanh xe của bạn vậy! Đây là tính năng rất thú vị và có ý nghĩa thực tế, không như BMW Gesture Control. Tất nhiên, tính năng 3D View là trang bị tùy chọn phải bỏ thêm tiền.

Đánh giá xe BMW 750i 2018 về động cơ vận hành

Trong một buổi phỏng vấn, ông Adrian van Hooydonk, Giám đốc Thiết kế của BMW đã tiết lộ một bí mật thú vị: lần đầu tiên, đời 7 Series được thiết kế với phiên bản trục cơ sở kéo dài trước rồi sau đó, bản trục cơ sở ngắn mới được phái sinh. Điều đó có nghĩa là phiên bản kéo dài không phải là một sự thỏa hiệp về mặt kỹ thuật. Từ trước đến nay, những phiên bản kéo dài, nhất là của sedan cỡ lớn, thường nặng nề hơn, hiệu năng kém hơn, cho trải nghiệm lái “lười biếng” hơn, chậm chạp hơn bản ngắn vì trục cơ sở và thân xe bị/được kéo dài. Đó là sự đánh đổi để đổi lấy nhiều không gian cho người ngồi sau hơn. Vậy chiếc BMW 750Li phiên bản trục cơ sở dài này thì sao?

Từ trước đến nay, dòng 7 Series luôn cố gắng giữ lại trải nghiệm thể thao song hành cùng sự êm ái mà 1 chiếc sedan hạng sang bắt buộc phải có. Trải nghiệm của tôi với 7 Series đời 5 cho thấy dòng sedan cỡ lớn này đã đánh đổi phần lớn cá tính thể thao đặc trưng của BMW để có thể cạnh tranh với S-Class về mặt êm ái.

Vậy còn đời 6 mà cụ thể là chiếc 750Li? Trong quá trình phát triển 7 Series

G11/G12, BMW đã khảo sát ý kiến khách hàng ở 7 thành phố lớn trên thế giới (Berlin, Los Angeles, London, Dubai, Sydney, Thượng Hải và Bắc Kinh) để thực sự hiểu khách hàng muốn gì trên 1 chiếc 7 series. Kết luận: họ cần 1 chiếc xe đủ êm ái để chủ xe có thể thư giãn ở hàng ghế sau nhưng vẫn phải mang lại cảm giác lái thú vị khi ông chủ đó cao hứng muốn cầm lái.

Do thời gian trải nghiệm có hạn, tôi đã cố gắng cầm lái nhiều nhất có thể nhằm tìm lời giải cho câu hỏi: liệu 7 Series mới có thể kết hợp được cả thể thao và sang trọng? Các bạn hãy chờ video của anh Hùng Lâm để khám phá trải nghiệm ở hàng ghế sau. Bên cạnh các chế độ quen thuộc (Eco Pro, Comfort, Sport), BMW  750Li còn có thêm chế độ Adaptive Mode. Thực chất, khi bấm nút Adaptive Mode, bạn đang kích hoạt tính năng Executive Drive Pro đã nêu ở trên. Đúng như tên gọi, Adaptive Mode sẽ liên tục tinh chỉnh hệ thống treo, hệ thống lái, hộp số 8 cấp Steptronic và động cơ để phù hợp nhất với ý muốn người lái và cung đường. Cần lưu ý là Adaptive Mode hoạt động song song với 3 chế độ lái cơ bản chứ không thay thế chúng.

Thời gian không có nhiều nên tôi cũng chẳng buồn thử chế độ Eco Pro. Khẽ ấn nút Comfort, chiếc xe lướt đi nhẹ nhàng và thanh thoát dù xe nặng tới hơn 2 tấn. Vô lăng nhẹ nhàng nhưng vẫn giữ được độ chính xác, dù gần như không có chút cảm nhận mặt đường nào. Chân ga và chân phanh được căn chỉnh khả cứng và đầm, trái với kiểu nhẹ nhàng của Mercedes-Benz. Thử đi qua ổ gà, chiếc BMW 750Li vẫn duy trì độ cân bằng khá tốt, dao động bị triệt tiêu gần như lập tức, chỉ nghe thấy 1 tiếng “thụp” nho nhỏ. Xoay trở chiếc limousine này ở nơi hẹp cũng không quá khó khăn nhờ hệ thống camera toàn cảnh và đánh lái bánh sau.

Ra đường trường, chiếc xe vẫn êm ái và tĩnh lặng như dải tốc độ thấp. Tuy nhiên, đáng tiếng là chiếc 750Li này không sở hữu gói tùy chọn Driving Assistance Plus. Do đó, xe chỉ có ga tự động tiêu chuẩn, không có tính năng bám đuôi xe phía trước, cũng không có hỗ trợ giữ làn đường. Với giá bán lướt trên 5 tỷ đồng, rõ ràng việc thiếu sót những tính năng này là rất đáng tiếc. Dù vậy, nếu bạn mua chiếc 750Li này và “sắm” thêm cả tài xế riêng thì cũng chẳng cần quan tâm đến các tính năng trên làm gì cả.

Chuyển sang chế độ Sport, bạn sẽ kích hoạt toàn bộ sức mạnh của khối động cơ V8 tăng áp kép. Động cơ V8 tăng áp kép dung tích 4.4 lít của BMW 750Li sản sinh công suất tối đa 445 BHP (450 mã lực theo cách tính quen thuộc với người Việt Nam) và mô men xoắn cực đại 650 Nm. Sức mạnh này đủ khiến chiếc xe hạng sang này tăng tốc lên 100 km/h chỉ trong 4,4 giây trước khi bị giới hạn điện tử ở 250 km/h. Đạp lút chân ga, 2 cuộn tăng áp luồng đôi không cần quá nhiều thời gian để đạt áp suất tối đa nên độ trễ là gần như không thể cảm nhận. Chiếc xe lao vút lên phía trước vô cùng nhanh chóng nhưng vẫn êm ái, không quá sốc nổi như một chiếc xe thể thao thứ thiệt. Đúng vậy, nhanh thì nhanh thật, nhưng về bản chất, BMW 750Li vẫn là 1 chiếc xe sang.

Khi vào cua ở tốc độ cao, thân xe vẫn tương đối song song với mặt đường, ít bị vặn xoắn, người ngồi trong ít bị nghiêng ngả. Có một sự thỏa mãn không nhỏ khi bạn tận hưởng tốc độ với sự an toàn tối đa đến từ hàng trăm ngàn phép tính của nhiều hệ thống cơ khí – điện tử xung quanh mình. Dù vậy, BMW 750Li không mang lại cảm giác lái kịch liệt và cảm xúc như những mẫu sedan hiệu năng cao nhỏ gọn và nhẹ cân hơn. Tôi vẫn dành lời khen cho nó vì nếu một doanh nhân thành đạt trực tiếp ngồi cầm lái, anh ta vẫn sẽ cảm thấy mình đang lái chiếc xe của chính mình chứ không phải là một … anh tài xế lái xe cho người khác.

Đánh giá ưu nhược điểm BMW 750i 2018

 

Từ trước đến nay, BMW 7 Series luôn là dòng xe phải làm rất nhiều thứ, phải vừa sang trọng, vừa sở hữu nhiều công nghệ nhưng không được đánh mất trải nghiệm thú vị đặc trưng của thương hiệu BMW. 7 Series đời thứ 6 thực sự đã làm được điều đó khi vừa sang trọng trong chất lượng gia công và trải nghiệm, vừa giữ được phần nào trải nghiệm lái thú vị và sở hữu những công nghệ tiên phong. Dòng 7 Series của BMW cuối cùng cũng tốt như những gì chúng ta kỳ vọng.

Điểm: 9/10

Ưu điểm:

– Chất lượng nội thất tốt đời trước
– Nhiều công nghệ tiên phong
– Trải nghiệm đỉnh cao

Nhược điểm:

– Giá khá cao vì động cơ V8 4.4L
– Các chi tiết da kém xe Mercedes-Benz cùng đẳng cấp
– Phiên bản 750Li không có sẵn hàng, chỉ có 1 vài showroom tư nhân có sẵn

Thông số kỹ thuật BMW 750i 2018

Nguồn: Vĩ Phạm xehay vn/(Tuoitrethudo)

BMW 750Li 2018: Giá bán bao nhiêu, Đánh giá xe – Thông số kỹ thuật
5 (100%) 5 votes

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here